Georgi Lozanov

Học tập là vấn đề thái độ chứ không phải là năng khiếu.

Dorothy Billington

Những gì chúng ta biết ngày hôm nay sẽ lỗi thời vào ngày hôm sau. Nếu chúng ta ngừng học thì chúng ta sẽ ngừng phát triển.

Uyliam Batơ

Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn
Showing posts with label bữa ăn phụ cho bé. Show all posts

Cho bé ăn phô mai đúng cách

Posted by Unknown
Phô mai là một trong những sản phẩm chế biến từ sữa được các bà mẹ tin dùng nhiều nhất. Tuy nhiên thì Bao giờ thì có thể cho bé ăn phô mai được? Phô mai và phô mai tươi khác nhau như thế nào? Các mẹ hãy tham khảo những thông tin dưới đây nhé!

Không chỉ có mùi vị hấp dẫn, phô mai còn chứa nhiều protein, canxi, kẽm, phốtpho, magie, vitamin A, B2, B12 – một sản phẩm “đa chất”, lại dễ kết hợp, chế biến thành nhiều món ăn, các mẹ chắc chắn đã đặt niềm tin đúng chỗ rồi.

1. Bao giờ thì có thể cho bé ăn phô mai được?

Khi trẻ bước sang tháng thứ sáu, ngoài việc bú sữa mẹ, trẻ cần được cho ăn dặm thêm để cung cấp đủ năng lượng và dưỡng chất để tiếp tục tăng trưởng nhanh. Lúc này, có thể đưa phô mai vào thực đơn của trẻ như những thực phẩm khác. Lưu ý không cho trẻ dưới 6 tháng dùng phô mai vì hệ tiêu hoá của trẻ thường chưa có men tiêu hoá thức ăn ngoài sữa.

Khi mới tập ăn cho bé thì nên cho bé ăn từng miếng nhỏ và chỉ ăn một lần trong ngày, sau đó mẹ quan sát các dấu hiệu tiêu hoá ở trẻ để đề phòng tình trạng dị ứng thực phẩm. Sau đó, nếu thấy trẻ bình thường thì tăng dần dần theo sở thích và khả năng tiêu hoá của trẻ. Với những bé mới hơn 6 tháng tuổi, nhớ đừng chọn loại phô mai cứng quá và phải cắt nhỏ để bé không bị hóc.

Phô mai là một trong những sản phẩm chế biến từ sữa được các bà mẹ tin dùng nhiều nhất.
Cho đến thời điểm này, chưa có khuyến cáo về lượng phô mai tiêu thụ tối đa hay tối thiểu cho trẻ ăn trong 1 ngày hay 1 tuần. Tuy nhiên, tính toán về thành phần dinh dưỡng cân đối thì mỗi ngày chỉ nên cho trẻ ăn 1 lần, tuần ăn vài ngày là đủ, để trẻ còn ăn các thức ăn khác. Ba mẹ cũng có thể cho trẻ ăn hàng ngày trong một thời gian ngắn nhưng không tốt bằng việc thay đổi các món ăn khác vì sẽ dễ làm trẻ ngán và không được đa dạng thực phẩm.

2. Phô mai và phô mai tươi

Bước vào thế giới của phô mai, chúng ta có thể ngẩn ngơ vì sự phong phú, đa chủng của hàng trăm loại phô mai khác nhau về màu sắc, hương vị, có loại trơn mịn hay chai cứng, láng bóng hay có vỏ thô mốc, ngọt dịu hay thậm chí thum thủm hôi như mùi… giày vớ dơ. Cũng dễ hiểu vì phô mai được làm bằng cách dùng vi khuẩn hay chất enzyme để đông chất béo nhiều loại sữa khác nhau như dê, cừu, bò… Nhưng dùng loại vi khuẩn nào và cách đông như thế nào, thời gian bao lâu, có hay không các loại gia vị khác để có các loại phô mai khác nhau thì thật là thiên hình vạn trạng. Có nhiều cách phân loại phô mai như làm bằng sữa gì, kết cấu ra sao, thời gian cách chế biến, lượng chất béo trong phô mai nhiều hay ít…

Loại phô mai phổ biến nhất đối với các bà mẹ Việt Nam có lẽ là loại phô mai được sản xuất và đóng gói thành miếng hình tam giác, xếp trong hộp tròn 8 miếng. Loại phô mai này thường có hạn sử dụng tương đối lâu nên các mẹ thường mua và “dự trữ” sẵn trong tủ lạnh. Trong khi đó, phô mai tươi thì đa dạng về chủng loại nhưng lại ít phổ biến hơn. Vì phương thức chế biến phô mai tươi cũng khá nhanh và đơn giản nên một số mẹ còn chăm chỉ tự “sản xuất” luôn tại nhà cho con để có thể yên tâm về mặt vệ sinh cũng như gia giảm hương vị. Những loại phô mai này chỉ có thể trữ được vài ngày vì không chứa chất bảo quản, hai loại phô mai tươi phổ biến nhất có lẽ là cottage cheese và cream cheese, cả hai đều rất mềm mại và có vị trung tính, dễ ăn. Mozzarella cũng là một loại phô mai tươi thông dụng, có xuất xứ từ Ý. Mozzarella được nhào nặn với nước nóng, tạo thành khối dẻo, thường được dùng để làm bánh pizza. Các loại phô mai cứng hơn thường được đổ vào các khuôn, nén lại dưới áp suất cao và ủ với thời gian lâu hơn như Swiss, Cheddar, Monastery…

Dù lựa chọn sử dụng phô mai thường hay phô mai tươi, khi mua cũng cần xem kỹ bao bì sản phẩm, nhà sản xuất thường ghi rõ thời gian sử dụng và cách bảo quản của từng loại.

3. Cách chế biến đa dạng

Với những loại thực phẩm khác nếu không biết cách chế biến, có thể sẽ không giữ được hàm lượng dinh dưỡng cao nhất, phô mai lại không như vậy. Ví dụ như khi cho phô mai vào chảo thì có thể cho vào nấu hay gần nhắc xuống mới cho vào cũng được. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là vi lượng chất béo trong phô mai khá nhiều nên khi nấu ăn cho bé cũng nên để ý một chút đến việc gia giảm lượng dầu ăn. Một chén chảo đủ dinh dưỡng cho bé thì cần khoảng 10-15ml dầu ăn, nếu sử dụng cả phô mai thì tuỳ lượng phô mai dùng bao nhiêu mà cần thêm dầu nhiều hay ít, thông thường, nếu đã cho 1/2 miếng phô mai hình tam giác thì có thể bớt đi khoảng 7ml dầu ăn.

Cách chế biến thực phẩm thường ít ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của phô mai. Việc pha trộn phô mai để dùng với các món ăn khác cũng không có tương kỵ gì. Ba mẹ có thể cho bé ăn nhiều cách như có thể ăn với bánh mì, nấu chung với chảo hay làm những món ăn khác…

4. Cũng chỉ là một món ăn

Với các loại phô mai thường, thành phần trong phô mai không có bột đường, gồm có đạm, béo, vitamin A và đặc biệt là hàm lượng canxi khá dồi dào, vì thế phô mai rất tốt cho quá trình hình thành và duy trì sự cứng chắc cho xương.

Phô mai tươi là một sản phẩm sữa có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein chiếm khoảng 15-20%, đầy đủ các loại axit amin quan trọng… Ngoài ra, trong phô mai tươi còn có một lượng đáng kể các khoáng Ca, P, Fe, Mg… cần cho sự phát triển tế bào, sự tạo thành xương và quá trình trao đổi chất trong cơ thể của bé.

Tuy nhiên, dù phô mai là thực phẩm bổ dưỡng nhưng nếu vì hương vị hay cơ địa mà bé ăn không được thì ba mẹ cũng đừng quá lo lắng. Phụ huynh có thể thay thế thực đơn bổ sung cho bé gồm sữa, bánh plan, sữa chua, đậu hũ… bé chắc chắn vẫn có thể phát triển khoẻ mạnh, bình thường.

Xem thêm cách làm Cupcake chocolate cho bé yêu
more »

Chuối rất tốt cho hệ miễn dịch của trẻ

Posted by Unknown
Từ lâu chuối vẫn được coi là trái cây có nguồn dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Đối với trẻ em, chất xơ của chuối có tác dụng làm cho ruột hoạt động đều hạn chế biếng ăn ở trẻ, giúp phòng chống táo bón, đặc biệt là rất có lợi cho hệ miễn dịch của trẻ…
Một số nghiên cứu mới cung cấp khá nhiều thông tin lý thú như chuối chứa nhiều tyrosin, một tiền chất để sản xuất chất dẫn truyền thần kinh dopamin, serotonin có vai trò tích cực đối với sự nhanh nhạy, khả năng học hỏi và điều hoà hoạt động của tim mạch (nhất là đối với trẻ nhỏ). Trong chuối có đủ 8 loại axít amin thiết yếu mà cơ thể con người không tự tạo ra được, có đến 11 loại khoáng chất và 6 vitamin. Có thể nói chuối không chỉ tốt đối với trẻ nhỏ, mà người lớn nếu ăn một, hai trái mỗi ngày sẽ được cung cấp thêm năng lượng, vitamin, khoáng chất giúp tiêu hoá tốt, điều hoà huyết áp, da và tóc đẹp hơn, thậm chí giảm bớt stress…

Nên tập cho trẻ ăn chuối tươi, tốt hơn là ăn những loại thực phẩm đã được đóng gói và chế biến sẵn. Khi trẻ được sáu tháng tuổi, trẻ đã có thể ăn các loại thức ăn đặc, lúc này các bà mẹ có thể tập cho trẻ ăn trái cây và chuối là một trong những thức ăn đầu tiên có thể dùng cho trẻ khi bắt đầu ăn giặm. Các chất carbohydrat, protein, chất xơ, vitamin… có trong chuối sẽ giúp trẻ dễ tiêu hoá. Hàm lượng kali, magnesium khá cao trong chuối sẽ giúp cơ bắp hoạt động tốt hơn, êm dịu thần kinh, và nhất là bổ sung chất điện giải bị hao hụt khi bị tiêu chảy. Cho trẻ độ tuổi nhi đồng ăn một, hai trái chuối tốt hơn là ăn các loại bánh snack.

Chuối có thể được nghiền nát và trộn với sữa mẹ hoặc sữa bột để làm thức ăn cho trẻ. Ngoài ra, có thể làm bữa ăn của bé đa dạng hơn bằng cách trộn chuối với các loại thực phẩm cũng tốt cho sức khoẻ như khoai lang, bơ, bí đỏ, lê và thậm chí đậu hũ. Chuối có thể dùng chung với yaourt, với những miếng nhỏ lẫn trong yaourt để trẻ khám phá hương vị mới khi tập nhai. Các bà mẹ cũng có thể dùng chuối hoặc bột chuối chế biến thành bánh nướng, bánh chiên, kem chuối, sinh tố chuối dâu hay chuối xoài… để bé ăn vào bữa xế.

Với lớp vỏ dày, chuối là một trái cây khá an toàn về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm. Chuối không có chất gây dị ứng nên các bà mẹ không cần phải lo lắng. Tuy nhiên, cũng cần tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bạn nghi ngờ con mình bị dị ứng với bất kỳ thực phẩm nào.

more »

Cách phân chia thời gian bữa ăn phụ cho bé

Posted by Unknown
Trẻ em cần được ăn 5-6 bữa mỗi ngày và bữa ăn nào cũng quan trọng cả., gọi là bữa ăn phụ, nhưng đối với trẻ em, không có bữa ăn nào là phụ. Đây chỉ là cách gọi để người lớn chúng ta hiểu rằng: trẻ con ngoài 3 bữa ăn chính buổi sáng, buổi trưa, buổi tối thì trẻ còn cần thêm 3 bữa ăn khác xen kẽ vào giữa những bữa ăn không thể thiếu đó. Hay nói cách khác,

Tại sao trẻ em cần ăn nhiều bữa trong ngày?

Cần nhớ rằng, trẻ em càng nhỏ thì thể tích dạ dày (bao tử) càng nhỏ, tức là dạ dày của trẻ em cũng lớn theo tuổi. Cùng một lúc ta không thể đưa vào trẻ một lượng lớn thức ăn nhiều hơn thể tích dạ dày trẻ mà phải chia ra thành nhiều bữa nhỏ. Trẻ nhỏ không chỉ cần ăn để sống mà còn phải đáp ứng nhu cầu để tiếp tục tăng trưởng, phát triển thêm về chiều cao, cân nặng, bộ não… nên chúng ta phải liên tục làm căng, nới rộng bao tử cho trẻ bằng những bữa ăn no (tức là thấy bụng bé phình to ra sau khi ăn).

Bạn có thể tăng lượng thức ăn dần dần mỗi 2-4 tuần sao cho vừa sức với trẻ, không nên ép nhiều quá bé sẽ bị nôn ói ngay sau ăn. Có một ngoại lệ ở trẻ em: Do sữa có thể được vón cục nhanh chóng trong dạ dày nên trẻ có thể bú vào một lúc lượng sữa lớn hơn thể tích dạ dày của bé.

Hơn nữa, thức ăn của trẻ chủ yếu là sữa và các thức ăn lỏng, loãng ít năng lượng, mau tiêu, mau đói… nên chúng ta phải cung cấp thức ăn thành nhiều bữa trong ngày, kể cả ban đêm. Tuy nhiên cũng không nên quá cực đoan, bạn không nhất thiết cứ phải bắt buộc trẻ thức dậy đúng giờ vào ban đêm để ăn nếu tổng lượng thức ăn ban ngày và bữa tối trước khi ngủ đã đủ cho nhu cầu của trẻ. Thường trẻ đói sẽ tự thức dậy và đòi ăn, thức ăn đêm thường là sữa ở trẻ nhỏ để trẻ có thể nhanh chóng ngủ trở lại vì giấc ngủ của trẻ rất quan trọng để trẻ có thể lớn.

Nên phân chia thời gian và thức ăn ra sao?

Bữa ăn đầu tiên trong ngày nên bắt đầu sau khi thức dậy khoảng 30 phút, có thể là một bữa ăn đặc (cơm, cháo, bún…) hay ly sữa cũng được. Khoảng 2-3 giờ sau là bữa kế tiếp và nên đổi món. Ví dụ, sáng ăn cháo thì “ăn giữa giờ” buổi sáng là sữa, rồi trưa ăn cơm, ngủ trưa dậy cho uống sữa, bữa tối ăn cơm và trước khi ngủ phải uống sữa trở lại… Thường thì một bữa ăn đặc lâu tiêu hơn, khoảng 2,5 - 3 giờ mới tiêu bớt, với sữa thì nhanh hơn, khoảng 2 - 2,5 giờ tùy từng trẻ.

 Đối với trẻ nhỏ cần chú trọng tới số lượng thức ăn trong ngày.

Tuy nhiên, trong dạ dày thường không bao giờ hết nhẵn thức ăn (trừ khi ăn bữa tối xong ngủ 6-8 giờ sau mới dậy ăn thì lúc đó dạ dày rỗng thật) nên đôi khi đến bữa ăn sau trẻ vẫn bị nôn ra một ít thức ăn cũ của bữa trước đó, nhưng không nên để khoảng cách bữa lâu quá 4 giờ sẽ không có đủ bữa ăn cần thiết.

Và nên từ bỏ ý nghĩ bữa phụ của trẻ chỉ là ly nước cam, cái bánh quy, cái kẹo hay vài múi quýt là được vì sẽ không cung cấp đủ lượng và chất cần thiết cho trẻ. Những món dùng để “ăn vặt” này nên cho ăn ngay sau bữa ăn đặc, không nên ăn rải rác suốt ngày sẽ làm bé bị no ngang đưa đến chuyện không ăn đủ số lượng cần thiết trong bữa chính.

Khi thấy trẻ em tăng cân nặng và chiều cao đều đều theo đúng yêu cầu trong biểu đồ tăng trưởng chứng tỏ lượng thức ăn đưa vào từng ngày là đủ.

Đối với trẻ em, tổng lượng thức ăn trong ngày mới là quan trọng, vì nếu bữa nay gặp món ăn không hợp khẩu vị, lắm trẻ có thể ăn ít hơn một chút, nhưng bạn vẫn có thể cho trẻ uống bù thêm một ít sữa ngay sau khi ăn hoặc bữa sau thì cho ăn gần lại một tí… cũng được.          

Xem thêm 8 món ăn bốc giúp bé không biếng ăn
Theo SKĐS
more »